Showing posts with label Rượu Bàu Đá. Show all posts
Showing posts with label Rượu Bàu Đá. Show all posts

Tuesday, October 30, 2012

RƯỢU BÀU ĐÁ TRÊN TỪNG HẠNH NGỘ

 Bút ký của Lê Hoài Lương

Cổ nhân có lời khuyên ‘‘Phu phụ tương kính như tân’’, nôm na là vợ chồng nên luôn giữ lễ và đối với nhau như khách. Mỗi lần nâng ly rượu ngon, tôi luôn có cảm giác một lần hạnh ngộ, dẫu đó là với danh tửu Bàu Đá quê hương đã quá thân thiết những cung bậc nồng đượm hương vị. ‘‘Tương kính như tân’’ là nghệ thuật giữ gìn và hưởng thụ đời sống vợ chồng, còn nâng ly hạnh ngộ với rượu quen- rượu Bàu Đá, là một cách ‘‘tương kính’’ trước sức quyến rũ của tuyệt phẩm chưng cất này. 

Đường vào làng nghề truyền thống rượu Bàu Đá. (Ảnh: VL)

Rượu ngon và bạn hiền

Cuối tháng 5 vừa rồi ở Bình Định có tổ chức Hội thảo khoa học tầm quốc gia về thân thế và sự nghiệp nhà soạn tuồng Nguyễn Diêu. Để đãi khách quý trong nước, ngoài nước về dự, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đặt hẳn một mẻ rượu Bàu Đá đậu xanh. May sao, thời tiết nắng nóng nấu nếp đã khó huống chi đậu xanh, vậy mà mẻ này hoàn hảo đến mức ngoài hương vị đặc trưng tuyệt vời của nó, rượu còn chơm chớm khê. Hương vị rượu thì còn có thể dụng công từ chất liệu đến kỹ thuật vào men, chưng cất…, chứ hương chớm khê là may mắn nhiều hơn chủ ý vì chỉ có ít sơ suất là khê nồng hỏng rượu.

Các danh sĩ Bắc Hà như Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Trọng Tạo… mê mẩn thứ rượu lần đầu được thưởng thức này. Các ông ít nhiều đã uống rượu Bàu Đá, đã biết danh tửu này hàng đầu quốc gia nhưng rượu đậu xanh của làng nghề thì ngon đến sửng sốt. Các nhà văn phía bắc còn nhờ mua giúp mang về Hà Nội, không còn rượu đậu xanh, chúng tôi lấy về rượu nếp cũng rất được tán thưởng. Cũng dịp này, Giáo sư - Tiến sĩ Thái Kim Lan - Việt kiều ở Đức, sau khi được uống thứ ‘‘siêu tửu’’, đã không ngại xin một chai đem về. Bà giáo sư mê hát bội, mê rượu ngon này là Mạnh Thường Quân mươi năm trước tạo mọi điều kiện cho Nhà hát tuồng Đào Tấn sang biểu diễn ở Munich, Đức.

Chuyện rượu đậu xanh Vũ tiên sinh còn nhắc hoài kỷ niệm với danh ca hát bội Cửu Vị. Nghệ sĩ tài danh này sau giải phóng gặp lại người bạn cũ- giờ làm nghiên cứu tuồng, đóng góp quan trọng cho hội thảo tôn vinh Đào Tấn- rất cảm kích. Ông tự mình nghĩ cách nấu rượu đậu xanh và xách xuống thăm cho, rượu nồng khê vì không thành công, nhưng 5 ký chắt được một chai là cái thơm thảo bằng hữu, cái tri kỷ của kẻ yêu nghề.

Do cách uống nên nhiều người hiểu chữ ‘‘bạn rượu’’ không hay. Thực ra bạn uống rượu xưa nay không nhiều. Và khi đạt được tầm bạn này cũng có nghĩa đạt tới độ cảm thông, chia sẻ lớn, tới sự tin tưởng về nhân cách. Có thể im lặng thưởng thức. Có thể luận bàn văn chương thế sự. Cả niềm vui, nỗi buồn. Ngồi được với nhau bên ly hảo tửu thì không uổng thời giờ, tiền bạc.

Khách Tây và ly rượu Bàu Đá trong phút dừng chân bên đường. (Ảnh: VL)

Đồng thanh tương ứng…

Tôi là người có máu bản địa nên rất tự hào rượu quê mình. Bạn xa về Bình Định đương nhiên mời rượu. Cũng rượu làm quà cho bạn xa nếu có điều kiện. Và không quên đem theo rượu mỗi lần đi dự các trại viết. Chuyện bậc đại danh Văn Cao lần về Bình Định từng khen rượu Bàu Đá ‘‘dày’’ hơn rượu Vân, nhiều người kể và đâu đó có viết lại. Tôi chỉ kể mấy lần chứng kiến cuộc tôn vinh Bàu Đá.

Năm 2006, dự trại viết Văn nghệ Quân đội (VNQĐ) ở Mỹ Khê, Đà Nẵng, tôi lên tận làng nghề Cù Lâm mua 20 lít rượu bọt, nửa gạo, nửa nếp. Dân cầm bút tứ phương căn bản là mê rượu và không hẹn mà gặp, tại trại viết này Bàu Đá ‘‘đụng hàng’’ Kim Long- Quảng Trị. Rượu Kim Long tôi từng uống dịp các bạn báo chí về Bình Định họp. Lần này, khi thấy phòng Bình Định chúng tôi khai tửu kết bạn, nhà văn Cao Hạnh, Phó chủ tịch Hội VHNT Quảng Trị xách qua giao lưu can 5 lít Kim Long. Tửu khách từ Hà Nội đến Lâm Đồng, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Phú Yên, Huế, Đà Năng…, đồng thanh ngợi khen Bàu Đá. Chính nhà văn Cao Hạnh cũng ‘‘tâm phục khẩu phục’’. Cuộc rượu Bình Định thơm lừng từ trong phòng ra tận bãi cát Mỹ Khê. Chẳng biết có phải nhờ thứ ‘‘chất đốt’’ nồng đượm này không mà trại viết thành công vang dội: đóng góp cho cuộc thi truyện ngắn 2 năm của tạp chí VNQĐ đến 4 giải thưởng, riêng Bình Định đã 2 giải.

Năm 2010, trại VNQĐ mở ở Bến Tre. Từ lâu xứ dừa Đồng khởi này qua văn chương thấy hay nói đến rượu Phú Lễ. Bạn văn gửi tặng rượu ngâm chuối chát đóng chai, uống nhạt nhẽo, tôi cứ cười cười tầm ‘‘uống tì tì suốt ngày’’ của các ‘‘anh hai’’ Miền Tây. Sau khi thưởng thức rượu Bàu Đá chính hiệu, một anh bạn bảo rượu Phú Lễ- Bến Tre chính là chị em với Bàu Đá! Rồi chứng minh. Anh về tận Ba Tri quê cụ Đồ Chiểu xách lên chai rượu trong veo và cái cổ hũ dừa trắng phau. Không riêng tôi, bạn văn mọi miền đều công nhận cái vụ ‘‘bà con’’ giữa đường thú vị này. Người Bến Tre giải thích, dân Phú Lễ- Ba Tri vốn xưa là người Bình Định ghe bầu vào lập nghiệp. Rượu Bình Định đã được “di nghệ” vào xứ mênh mang sông nước này! Nhà văn Bình Định Nguyễn Mỹ Nữ- dân rượu với tôi, cũng phải gật đầu ghi nhận ‘‘người bà con’’. Người Bến Tre hãnh diện khoe gốc tích rượu ngon của họ và tôi viết chi tiết này cùng chia sẻ và hãnh diện về Bàu Đá.

Mới đây, tháng 4.2012, tôi dự trại VNQĐ ở Phú Yên. Chưa đi, bạn văn Hà Nội, Phú Yên đã nhắc mang theo Bàu Đá. Họ nhắc vì đâu đó truyền tin tôi bỏ rượu, sợ không mặn mà chuyện ‘‘chất xúc tác’’ này. Tất nhiên, không nhắc tôi cũng đem theo niềm tự hào bản địa như đã nói. Cũng như các lần trước, ‘‘anh hùng hào kiệt’’ khắp các vùng miền đều tán dương thứ nước uống, khi đốt thay cồn nướng mực, cháy lửa xanh lè, hương vị tuyệt hảo. Chỉ tôi ngạc nhiên về bạn bè. Thì ra họ thưởng thức rượu Bàu Đá khá sành. Rượu lần này tôi mang theo không nhiều nên hết nhanh, trừ mấy chai Vodka xách tay của nhà văn Doãn Dũng, các thứ rượu Phú Yên của các bạn hay Vodka Hà Nội chỉ là ‘‘giải pháp tình thế’’. Cuối trại, vợ chồng nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ vô thăm chơi, anh Đỗ Ngọc Hoánh mang theo lượng Bàu Đá mới. Cuộc rượu nguyên bổn khác nhau một chút: tôi mang theo mẻ rượu trước cất gần tháng, anh Hoánh lấy mẻ mới, chưa thuần lắm, lập tức một bạn văn trẻ Hà Nội nhận ra ngay.  Nghe tôi khen sành, người bạn này bảo từng uống Bàu Đá chính gốc đến hai năm từ một người anh đều đặn gửi. Tôi ngạc nhiên vì, dù mấy chục cây số quốc lộ 1 bày bán ‘‘rượu Bàu Đá’’ nhiêu khê chất lượng, nhưng người sành vẫn biết gạn đục khơi trong khi đã yêu. Và hẳn, giá trị thật đáng yêu nên mới yêu và nhớ đến vậy! 

Sản phẩm rượu Bàu Đá ra thị trường.
Những người bán rượu

Quãng đâu đó năm  1999, 2000, thời chưa nhiều thông tin, phương tiện đi lại cho mọi nhà như giờ, thời Quy Nhơn chưa mấy nơi bán rượu Bàu Đá xịn, chúng tôi thường uống rượu một đại lý ở thị trấn Bình Định. Cái độc đáo của đại lý này ở chỗ, rượu được chứa trong ba chum sành to, âm dưới nền, quanh lèn trấu. Rượu từ lò chuyển về ‘‘nuôi’’ vào chum sành, cách nhiệt thế, chẳng mấy chốc sẽ thuần và ngon lên hẳn. Tôi có mấy người bạn nhà báo, quý nhau nên hễ có dịp đi xuống huyện, thể nào cũng ghé đại lý này lấy rượu về ‘‘gửi’’ lại nhà tôi. Những người bạn thích không gian vườn cây thoáng đãng và chắc thích gu rượu chủ nhân nên thời ấy, phần bầu bạn góp, phần tôi tự vận động, năm nào bà xã tôi cũng bán nhôm nhựa cả bao can nhựa các cỡ, vì để chật nhà.

Bao giờ cũng vậy, khách tới, vợ chồng người chủ đại lý này cũng hỏi mua loại nào, và mở nắp múc mời từng chum. Hương rượu cùng sự đon đả mời chào của chủ rất ấn tượng. Một lần bạn mang về can rượu được chủ khoe là ‘‘mẻ lúa Thu’’ ngon lắm. Thử, thấy đúng là tận ngon. Hôm sau tôi chạy xe hai chục cây số lên mua thêm can nữa để dành, phần mê rượu phần ưa chủ. Lúa vụ Thu, chắc can dự vào chất lượng rượu, nhưng cái cách người chủ gặp khách quen hãnh diện khoe rượu ngon không đơn giản là chuyện buôn bán. Nó có chất nghệ sĩ.

Giờ rượu làng nghề đã có mặt ở Quy Nhơn, đỡ công đi xa. Chúng tôi quen lấy rượu từ chỗ chị Bảy Hồng, 40- Chu Văn An. Chị dân làng nghề, nấu rượu mấy chục năm. Nhưng cái chính là chất lượng rượu chị bán, và cái cách bán rượu của chị. Chị lấy nguồn từ một số lò ở làng nghề, ví dụ lò ông Lâm Xuân Mười, lò cô Năm Phượng…, nhưng tiêu chuẩn phải là ngon, là thiệt. Mấy kiểu rượu đã qua ‘‘xử lý’’, hoặc chất lượng không bảo đảm vì thời tiết, chị kiên quyết không chịu, lỡ đem tới cũng phải mang đi chứ chị không bán cho khách. Mỗi lần tới mua, thấy chị phấn chấn ra mặt là biết mẻ này ngon. Gặp mẻ vừa, chị nói trước như một lời xin lỗi. Chị quá rành các thứ men viên, men nước, cách tăng hương thơm từ lá dứa, cách tạo vị ngót từ đường hóa học…, nên rượu từ nguồn chị bán không thể là các xảo thuật. Hạnh phúc, tự hào trong từng chai rượu ngon cho khách, bán rượu như chị thật ít giống người kinh doanh thông thường, mà đầy chất nghệ sĩ. Đó là niềm vui của người làm ra, cung cấp thức uống có men siêu hạng cho bàn dân thiên hạ.

‘‘…Hoa tư tưởng, xứ lên men’’

Mấy chữ của thơ Yến Lan khi viết về Bình Định chắc không phải khéo viết kiểu thi sĩ. Vì ông còn hai câu viết về rượu tuyệt dách thế này: ‘‘Lắc chiếc lọ sành còn rượu nhín/ Vọng lên đỉnh núi cụng vài ly’’. Rượu ‘‘nhín’’ của nhà thơ ‘‘Bàn Thành tứ hữu’’ cũng là người quê xứ Bàu Đá hẳn có ảnh hưởng từ hai câu của bậc tiền bối Đào Tấn: ‘‘Thập lý hồi xa khan trúc trưởng/ Nhất xuân tàn tửu đãi liên khai’’ (Bao phen rượu nhín chờ sen nở/ Mươi dặm xe về thấy trúc cao- lời dịch Vũ Ngọc Liễn)

Kể sơ vài câu tuyệt bút liên quan tới rượu chỉ để nêu một nhận xét có phần chủ quan rằng, nếu không có nguồn rượu ngon Bàu Đá, không có chất men rừng rực lửa đượm hương thơm quyến rũ, bao lần làm mềm môi người lữ thứ, bao lần vun đầy phấn khích chí tang bồng kẻ sĩ, bao lần chia sớt nỗi sầu thời cuộc…, hẳn không có chuỗi dài mặc định nét thơ Bình Định hào hoa và khí chất. Xưa có chữ ‘‘bầu rượu túi thơ’’ ngay từ nghĩa đen cũng đúng chứ chưa nói đến cái bầu hồ hải trong chí nam nhi. Muôn đời thơ rượu trùng phùng hàm nghĩa đẹp, và đâu chỉ hàm ngôn ‘‘hoa tư tưởng’’, ‘‘xứ lên men’’ này đã sản sinh những bậc chữ nghĩa thượng thừa: Đào Duy Từ, Đào Tấn, nhóm Bàn Thành tứ hữu, Xuân Diệu…

Nhiều bình, luận về chất thơ Bình Định. Nhưng nếu gắn với rượu Bình Định, hẳn sẽ giải mã được cái dư ba kinh lịch cổ điển Quách Tấn, cái hào hoa tráng chí Yến Lan, cái lộng lẫy lên đồng của Hàn Mặc Tử, cái đối sánh thời cuộc kỳ tài Chế Lan Viên. Ấy là chưa kể ‘‘ông hoàng thơ tình’’ tinh tế từ những ẩn ức…

Có thể làm một nghiên cứu nghiêm túc về rượu và thơ Bình Định chớ không phải kiểu nói nống cho sướng miệng đâu đó rằng, Bàu Đá tửu là một phần bí ẩn hành binh thần tốc Tây Sơn- Quang Trung, là rượu tiến vua, vân vân… Nhưng giả dụ một ngày rượu Bàu Đá thành thương phẩm quốc tế, những thêu dệt cần thiết sẽ đắc dụng. Mọi tín ngưỡng, cả tâm lý tiêu dùng, đều có màu sắc duy tâm. Thì khi ấy, việc gì Bàu Đá không ‘‘hội nhập’’?

Ai tri âm đó…

Từ Bình Định về, tác giả của những trứ tác tiểu thuyết lịch sử đồ sộ: Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý…, viết thư vào, gọi không gian 3 chú cháu tôi Vũ Ngọc Liễn, Đỗ Ngọc Hoánh, Lê Hoài Lương đang có nhiều năm nay, tại căn phòng 30 mét vuông của nhà nghiên cứu họ Vũ là ‘‘salon de littéraire’’, nôm na theo thư, là cái góc nhỏ của văn chương nghệ thuật thứ thiệt, ‘‘hãy cố giữ gìn’’. Nhà văn Hoàng Quốc Hải hẳn rất cân nhắc khi dùng cụm từ tiếng Tây trên. Vừa dễ vừa khó khi viết mấy chữ đó. Dễ, vì đây là thư riêng, mà cũng khó, chính vì việc lưu bút khẳng định một giá trị, nhất là giá trị văn hóa.

Đỗ Ngọc Hoánh vốn là một guitarist tầm cỡ, lâu nay anh giúp Vũ tiên sinh làm văn bản tuồng hát bội. Chúng tôi hợp nhau khoản ưa rượu ngon. Ở ‘‘sa-lông’’ này ba chú cháu sáng nào cũng có vài tuần trà, tuần rượu. Không riêng Bàu Đá, ‘‘kho’’ của chúng tôi còn hãnh diện hiện hữu rượu Trung Thứ- Phù Mỹ, rượu Vĩnh Cửu- Vĩnh Thạnh. Rất lạ là, một phía đông đường tận gần biển, một tây đường trên núi cao. Mà đều rất ngon, với hương vị riêng. Có thể gọi Bình Định là xứ của rượu ngon.

Nếu hỏi chọn một sản vật nào của Bình Định giới thiệu ra thế giới, nhiều người thống nhất rượu Bàu Đá. Ngoài rượu gạo chân mộc quyến rũ kiểu thôn nữ, rượu nấu nếp thêm chút lụa là hương phấn phố phường, gần đây người làng nghề thành công nấu rượu đậu xanh, và đây là một quý cô đài các, kiêu kỳ. Cả ba loại Bàu Đá đều xứng danh đi sánh xứ người.

Theo ông Nguyễn An Pha, Chủ tịch Hội VHNT Bình Định, người am hiểu nhiều mảng văn hóa Bình Định, người đầu tiên truyền nghề nấu rượu cho Cù Lâm- Bàu Đá là ông Hương Lễ Nghè bên An Vinh qua. Cũng nhân đây, tôi muốn nêu danh người đầu tiên làng nghề chinh phục rượu đậu xanh khó tính là cô Năm Phượng.

Vậy ai sẽ là người vinh danh Bàu Đá tửu ra thế giới?

Mới đây, nhà thơ Từ Quốc Hoài mang từ Bình Định vào Sài Gòn lít rượu đậu xanh. Khách quý được mời đã không thể tin thứ siêu tửu này lại rẻ vậy, và nhờ đặt hàng mấy chục lít. Mới đây, một người cháu anh Hoánh ở Mỹ về, được cậu đãi ly rượu Bàu Đá đã bật thốt: không thua gì các thứ rượu Tây. Và kỳ công ôm can rượu sang Mỹ để ‘‘làm dóc’’ với dân Tây!

Trong tất cả những hạnh ngộ, người viết bài này hy vọng sẽ có hạnh ngộ giữa rượu và người đưa thương hiệu Bàu Đá vang xa ngoại quốc. Hẳn đây không chỉ là cuộc vinh danh quê hương Bình Định. Tôi tin cuộc hạnh ngộ này, một ngày không xa…

LHL

Cung cấp rượu nếp nguyên chất tại TP.HCM:

 Rượu nếp 40 độ = 40.000 VNĐ/Lít; 
 Rượu nếp 45 độ= 50.000VNĐ/lit; 
 Rượu nếp 50 độ= 70.000 VNĐ/Lít. 
 Họ Và Tên : Lê Ngọc Tuân 
Email : ruounep.net@gmail.com 
Điện thoại : 0903.797.518 Đc: 46/29 Tam Bình, Phường Hiệp Bình Chánh, Q. Thủ Đức. 

Saturday, October 20, 2012

Rượu Bàu Đá và nhạc võ Tây Sơn


SGTT.VN - Xuân 1991, có lần đến nhà thơ Quách Tấn tại Bến Chợ - Nha Trang tôi có nghe tác giả Nhà Tây Sơn nói về huyền thoại 99 ngọn núi của vùng Tây Sơn (bao gồm cả huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định và huyện An Khê, tỉnh Gia Lai). Tôi hỏi: những huyền thoại ấy, ông nghe từ đâu? Nhà thơ trả lời: từ dân gian.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Thuận biểu diễn 12 trống trận Tây Sơn. Ảnh: TL SGTT

Quách Tấn sinh ra và lớn lên từ đất Tây Sơn (thời đó đã bị triều Nguyễn đổi tên là huyện Bình Khê), thuở lên mười, ông đã bắt đầu nghe kể chuyện Tây Sơn với vô số huyền thoại. Cũng phải thôi, kể từ năm 1802 sau khi tiêu diệt xong nhà Tây Sơn, triều Nguyễn đã tận diệt tất cả các di tích còn sót lại, kể cả đồng tiền Tây Sơn cũng bị nấu chảy. Cái còn lại của Tây Sơn nằm trong đáy lòng của người dân ở đây.

Thị trấn Phú Phong – huyện lỵ Tây Sơn – nằm về phía tây cách thành phố Qui Nhơn gần 50 cây số. Một khoảng cách tròm trèm với cự ly marathon mà trước đây có một nhà báo đề nghị một cuộc đua marathon Qui Nhơn – Tây Sơn “về nguồn” hàng năm vào dịp xuân về. Thị trấn Phú Phong có con sông Côn chảy qua, “dòng sông xanh thẳm tự bao giờ” như một sợi chỉ xuyên qua các vùng đất lịch sử. Con sông chảy qua làng Kiên Mỹ (nơi sinh ra ba anh em Tây Sơn) xuống đến chợ An Thái. Đây là đoạn sông mà trước đây, Nguyễn Nhạc – anh cả của gia đình – có thời gian đi buôn trầu từ Thượng Đạo xuống vừa làm kế sinh nhai, vừa có cơ hội giao du với hào kiệt quanh vùng.

Người ta gọi vùng đất này là “Tây Sơn tiềm long lục” (con rồng ẩn đất Tây Sơn). Quê hương ba vua là miền Trung du cửa ngõ của Tây Nguyên bao la, trên đường đi xuống vùng ven biển phì nhiêu. Ban đầu tổ tiên của nhà Tây Sơn thuộc ấp Tây Sơn Thượng Đạo (nay thuộc huyện An Khê – tỉnh Gia Lai). Đến đời Hồ Phi Phúc lấy vợ là Nguyễn Thị Đông chuyển về quê vợ ở làng Phú Lạc (Tây Sơn Hạ Đạo) nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Sau thời gian sống ở Phú Lạc, Hồ Phi Phúc chuyển sang làng Kiên Mỹ (cùng xã) rồi sinh ba anh em Tây Sơn ở đây. Thấy giáo Hiến vừa dạy văn vừa dạy võ cho anh em Tây Sơn đã từng nung chí khởi nghĩa cho học trò bằng các câu thơ:

“Thượng du lắm kẻ anh hùng

Các em về đó, vẫy vùng tốt hơn

Nghĩa kỳ dựng tại Tây Sơn

Tận trung báo quốc rửa hờn cho dân”

Muốn thăm lại di tích Tây Sơn, du khách có thể đến thị trấn Phú Phong, qua một cây cầu nhỏ bắc ngang sông Côn. Trên nền nhà cũ của anh em Tây Sơn là bảo tàng Quang Trung được xây dựng từ năm 1979 trưng bày hàng trăm hiện vật thời Tây Sơn. Bên cạnh bảo tàng Quang Trung là ba di tích còn lại bởi lòng dân là Đình Kiên Mỹ, cây me, giếng nước. Theo dân ở đây, đó là những di tích còn lại của nhà Tây Sơn sau 205 năm.


Món chim mía Phú Phong nướng muối ớt, đặc sản Tây Sơn. 
Ảnh: TL SGTT

Dân ở đây có câu “Học chợ Đình, cột đình Kiên Mỹ”. Đình Kiên Mỹ nổi tiếng khắp vùng với những cột đình cao, to sau khi triều đại Tây Sơn suy tàn, dân làng ở đây góp sức góp của lập nên ngôi đình để bí mật thờ cúng ba vua Tây Sơn. Hàng năm, vào dịp rằm thàng mười một âm lịch, nhân dịp Tết cơm mới, dân làng chỉ dám mật cáo, chứ không dám đọc văn tế trong lễ cúng. Ba mẫu hai sào ruộng đất do gia đình Tây Sơn khai phá, về sau bị nhà Nguyễn sung công được dân làng cày cấy, thu hoạch dùng cho việc cúng tế ở đình. Trải qua bao thăng trầm, bom đạn chiến tranh vẫn không diệt được ngôi đình và ngày nay nó được tôn tạo đẹp hơn để vào dịp Tết Đống Đa hàng năm cả tỉnh mở hội ở đây vào mồng năm Tết.

Bên cạnh đền Kiên Mỹ là cây me xum xuê tàn lá. Đây là cây cổ thụ có chu vi 4,5m, bóng rợp mát cả góc vườn, cạnh cây me là giếng nước nhỏ xây bằng đá ong, đường kính gần một mét, thành giếng chỉ cao 0,8m, do dân làng xây thêm sau này. Nước giếng trong vắt, vẫn còn dùng được. Ai đến thăm bảo tàng Quang Trung đều muốn ngồi lại nơi đây, dưới bóng mát của tàng me và soi mình trên mặt giếng.

Đến bảo tàng Quang Trung, không thể quên cái thú xem biểu diễn võ Bình Định. Trước hết là dàn nhạc võ Tây Sơn 12 trống được biểu diễn bởi cô Nguyễn Thị Thuận – quê quán chính làng Kiên Mỹ - do cha mình (một nghệ sĩ giỏi nhạc cổ truyền) truyền dạy.

“Mười hai trống xếp hàng hai

Đôi tay vỗ nhịp đường dài hành quân”

Cô Thuận đã dùng các bộ phận của tay từ nắm tay, cổ tay đến bàn tay, cùi chỏ cho những bài luyện: chỉnh tề, hùng dũng ở điệu “xuất quân”, khoan thai, êm đềm trong tẩu khúc “hành quân”, giục giã, gấp rút vào điệu “công thành”, phấn chấn, hò reo vào khúc chiến thắng “khải hoàn”. Đệm phụ cho chiến trận Quang Trung còn có kèn xô na, não bạc, sanh tiền, mõ. Ở trình độ cao hơn, người biểu diễn có thể đánh đến 17 trống một lần, dùng thêm cả hai gót chân.

Khi trống trận dồn dập, trên sân cỏ diễn ra những màn múa võ, những pha song đấu vun vút. Những bài võ được biểu diễn chắt lọc từ 35 lò võ nổi tiếng của Bình Định. Một du khách người Pháp xem biểu diễn đã phát biểu: “Nếu tôi là nghĩa binh, nghe tiếng trống trận Quang Trung, tôi sẵn sàng xả thân”.

Cuối cùng là chuyện ăn uống. Tây Sơn nổi tiếng với món chim mía Phú Phong. Đó là loại chim nhỏ như chim sẻ thường tập trung ở các ruộng mía bạt ngàn ở huyện Tây Sơn. Người đi săn có thể dùng lưới đánh chim mía bắt được hàng chục, có khi hàng trăm con. Bắt về, người ta vặt lông, mổ bụng nhồi vào đó gia vị: hành, ớt, lá chanh, muối tiêu… rồi xỏ que đem nướng. Những hàng chim vàng ruộm sắp lớp trên chiếc đĩa có lớp xà lách xanh trông rất ngon mắt.

Nhưng, đừng quên dùng với một thứ rượu vốn nổi tiếng ở đây. Đó là rượu Bàu Đá. Rượu gạo được cất nước nhất từ các vùng giáp ranh giữa Tây Sơn và An Nhơn. Rượu trắng trong vắt, khi rót ra ly có sủi những bọt tăm như mắt cá. Nồng độ tới 600, uống tới đâu biết tới đó. Rượu mạnh nhưng bạn đừng lo, ngủ một đêm tới sáng, khoẻ ru, không nhức đầu.

Nhấm một chút rượu Bàu Đá, khà một tiếng, nhai một miếng chim mía giòn rụm thật là hết ý. Bạn có thể mơ tưởng đến một xuân chiến thắng Đống Đa qua 2 câu thơ của Nguyễn Trọng Từ:

“Trời xuân khí lạnh như dao cắt

Gió xuân thổi máu đỏ chiến bào”.

XUÂN TIẾN 
(Hương vị quê nhà, SGTT Xuân 1997)

Cung cấp rượu nếp nguyên chất tại TP.HCM:

 Rượu nếp 40 độ = 40.000 VNĐ/Lít; 
 Rượu nếp 45 độ= 50.000VNĐ/lit; 
 Rượu nếp 50 độ= 70.000 VNĐ/Lít. 
 Họ Và Tên : Lê Ngọc Tuân 
Email : ruounep.net@gmail.com 
Điện thoại : 0903.797.518 Đc: 46/29 Tam Bình, Phường Hiệp Bình Chánh, Q. Thủ Đức. 

Wednesday, July 18, 2012

Rượu Bàu Đá thật giả lẫn lộn

Đủ loại rượu Bàu Đá được bày bán tràn lan trên QL1A, đoạn qua địa bàn tỉnh Bình Định - Ảnh: Hoàng Trọng
 
Mỗi ngày, tại Bình Định có đến cả ngàn lít rượu gắn nhãn mác Bàu Đá được tiêu thụ. Tuy nhiên, mức sản xuất tối đa của 33 hộ dân làng nghề rượu Bàu Đá (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, thị xã An Nhơn) chưa đến 400 lít/ngày.

Thực tế là số rượu thật này thường xuyên bị ế do rượu giả đang tràn ngập thị trường.

Nấu rượu để cầm hơi và... nuôi heo

Khoảng 2 năm trở lại đây, nghề nấu rượu ở xóm Bàu Đá không còn sôi động như trước. Chỉ vào mấy chum rượu để la liệt trong nhà, bà Huỳnh Thị Mỹ Dung (56 tuổi) than thở: “Từ sau tết, có lúc gia đình tui tồn gần 360 lít rượu Bàu Đá. Mới đây, may mà có người mua được 100 lít. Lần đầu tiên trong 2 năm nay bán được nhiều như vậy”.

Việc mỗi nhà ở làng nghề tồn từ 200-300 lít rượu là chuyện như cơm bữa. “Mình cạnh tranh không lại rượu giả vì họ bán lẻ mà chỉ bằng 1/2 giá sỉ của rượu thật. Bây giờ, làng này nấu rượu để cầm hơi và nuôi heo thôi”, chị Đoàn Thị Hiền (32 tuổi) cho biết.

Theo các hộ dân xóm Bàu Đá, với giá bán 20.000 đồng/lít rượu gạo, 25.000 đồng/lít rượu nếp thì khi dùng hết 50 kg gạo, nếp người nấu rượu vẫn lỗ hơn 100.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Em (64 tuổi) bức xúc: “Nhiều doanh nghiệp đến nhà chúng tôi ký hợp đồng mua vài trăm lít rượu để được cấp phép kinh doanh rượu Bàu Đá nhưng sau đó lại mua rượu ở các làng khác có giá từ 12.000 - 15.000 đồng/lít để làm rượu Bàu Đá giả. Kinh doanh kiểu vậy có lợi nhuận cao mà không bị cơ quan nào ngăn chặn thì doanh nghiệp dại gì không làm theo. Chỉ có người nấu rượu Bàu Đá thì ngày càng nghèo”.

Dọc QL 1A (đoạn qua thị xã An Nhơn) bao năm nay có hàng chục cơ sở bày bán “Rượu Bàu Đá” với đủ loại, nhuộm đủ màu xanh, vàng, trắng... Tuy nhiên, người dân làng nghề rượu Bàu Đá khẳng định, các cơ sở này chưa từng mua rượu từ trong làng mà vẫn ung dung dán mác Bàu Đá.

Bó tay với rượu giả

Đáng buồn là hiện các ngành chức năng cũng bó tay trước sự phát triển tràn lan của rượu giả. Ông Nguyễn Thành Minh, Trưởng phòng Kinh tế thị xã An Nhơn, cho rằng việc kiểm soát rượu Bàu Đá thật hay giả trên thị trường lại vượt quá tầm của địa phương, cần có sự can thiệp của các cơ quan chức năng cấp tỉnh.

Theo ông Lê Quang Tâm, Chủ tịch Hiệp hội Rượu Bàu Đá Bình Định, có 52 thành viên gồm 33 hộ nấu rượu và 19 hộ kinh doanh rượu. Hầu hết các hội viên kinh doanh không thu mua rượu tại làng nghề mà mua ở nơi khác giá rẻ hơn hoặc tự sản xuất hàng loạt rồi gắn mác Bàu Đá để hưởng lợi nhuận vượt trội. Đó là chưa kể một số người nấu rượu ở xóm Bàu Đá cũng làm ăn gian dối, nấu rượu kém chất lượng hoặc thu gom rượu từ các làng khác về pha trộn với rượu của mình để bán. Thật - giả vì vậy mà lẫn lộn đủ kiểu.

Ông chủ tịch hiệp hội rầu rĩ: “Ngay cả các thành viên của Hiệp hội Rượu Bàu Đá cũng không tâm huyết với sản phẩm của mình. Mạnh ai nấy làm, hồn ai nấy giữ, không thống nhất với nhau về giá cả, chất lượng rượu thì làm sao mà giữ được thương hiệu”.

Hoàng Trọng - Trần Thị Duyên
Nguồn: Thanh Niên

Monday, May 7, 2012

Về làng rượu Bàu Đá

Đứng bên những danh tửu như Làng Vân, Gò Đen, Hồng Đào, giữa muôn ngàn danh rượu nhập khẩu về từ các nước… cái tên Bàu Đá ngạo nghễ làm nên một thương hiệu. Có người bạn đi giao lưu với thanh niên ở Nhật về kể, anh chỉ đem theo mấy lít Bàu Đá làm quà từ Việt Nam và thật bất ngờ, họ khen ngợi hết lời, hỏi tại sao rượu ngon đến vậy mà giờ họ mới được nghe thấy...
 
Làng làm nên thương hiệu

Bước qua cổng “Làng nghề truyền thống rượu Bàu Đá”, tôi gặp chị Trần Thị Sơn. Chị đon đả đưa chúng tôi về nhà, giới thiệu lò nấu rượu và sản phẩm do chính chị làm ra.

Tay trái cầm ly, tay phải cầm bình, chị Sơn nhẹ nhàng đặt vòi bình rượu vào miệng ly. Chị nghiêng tay kéo bình lên cao, kéo lên rồi ngưng rót, rượu như một dòng thác nhỏ tuôn dài xuống ly, không rơi ra ngoài giọt nào. Rượu vừa đầy là lúc rượu sủi tăm vun lên rồi tan nhanh. Những bong bóng bọt tăm vỡ ra, tạo áp suất đẩy hương rượu bay khắp căn phòng, nồng nàn. Cũng tự nhận mình là người có nghề... uống rượu, tôi xin chị cho rót thử. Nhưng bàn tay vụng về của tôi chỉ vừa kéo bình lên, rượu đã văng ra ngoài. Tập nhiều lần nhưng tôi không thể nào làm được, nếu không đổ rượu ra ngoài thì dòng chảy lại không đủ mạnh để rượu sủi tăm.

Đi khắp làng Cù Lâm, vào nhà nào, cũng thấy một bình nhỏ đầy rượu sủi tăm chờ mời khách. Ngồi trong căn nhà xưa, ông Tạ Chí Nhơn kể về mấy đời nấu rượu của gia đình, của làng. Ông Nhơn cho biết, rượu Bàu Đá rất “nặng” (trên 50 độ) uống nhanh say nhưng say rồi không thấy mệt hay nhức đầu. Ông tự hào: “Say túy lúy rồi tỉnh lại vẫn uống tiếp được. Tôi cũng đi nhiều nhưng chưa có rượu nào uống đã bằng rượu làng mình nấu cả”. Chính con gái ông nấu rượu sành từ nhỏ, nhưng khi lấy chồng về Tây Sơn muốn đem nghề nấu rượu này để mưu sinh nhưng nấu không thể ngon được. Ông giải thích: “Quyết định chất lượng, hương vị, nồng độ rượu phần lớn là do nguồn nước. Nhiều người tới lấy công thức đi nơi khác nấu nhưng không thành công”.



Bà Nguyễn Thị Em, vợ ông Nhơn đang lục đục dưới bếp với hai nồi rượu, cũng vọng lên tham gia: “Nếu họ nấu được thì đâu còn là rượu Bàu Đá nữa ông”. Hai lò rượu của bà luôn đỏ lửa từ hơn 30 năm nay. Bà đã quen với độ nồng của rượu, quen với thời tiết, quen với độ lửa làm sao cho rượu ngon nhất. Cầm chai rượu, bà chỉ cần lắc nhẹ và nói chính xác bao nhiêu độ. Còn rượu mà bà không đoán được, bà gọi là “rượu chạy”.

“Rượu chạy”

Theo người làng Cù Lâm, “rượu chạy” là rượu lạt, rượu dở. Mỗi nồi rượu ở làng nấu gồm 6 kg gạo ngon, vào men ủ 6-7 ngày mới đem ra nấu thủ công bằng nồi đất, ống tre. Một buổi chỉ nấu được một nồi, lửa phải thật nhỏ đủ để nồi cơm rượu bốc hơi rồi ngưng tụ qua một thau nước luôn được giữ mát. Nếu lửa lớn, cơm rượu sẽ bị sít vào nồi, rượu sẽ khê… Mỗi nồi nấu chỉ lấy 4 lít, giá thành thấp nhất là 15 ngàn đồng/lít (chưa tính công) trong khi rượu bán tại làng chỉ 17 ngàn đồng/lít. Tôi hỏi: “Vậy lời ở đâu?”. Bà Em chỉ tay vào đàn heo đang tranh ăn trong chuồng: “Đó, mình chỉ lấy hèm nuôi heo. Ở làng này có ai nấu rượu mà giàu đâu”. Mỗi ngày, nhà ông Nhơn nấu 4 nồi rượu, đủ hèm cho heo ăn.

Rượu của làng bán ra ngoài, người ta cũng nói là mua rượu chính gốc, nhưng thực tế, họ đã pha thêm vào cho nhiều, đặng bán có lãi hơn. Những rượu này rót khó sủi tăm hoặc nếu sủi tăm thì không tan nhanh mà bọt cứ lợn cợn trên mặt ly do tạp chất lẫn vào; rượu trong chai thì chỉ cần lắc nhẹ là đục và rất lâu sau mới trong lại.




Những loại “rượu chạy” này đã làm giảm uy tín rượu của làng. “Tôi dám khẳng định một điều rượu bán ở dọc đường ngoài kia toàn là “rượu chạy” - ông Nhơn bức xúc. Bên cạnh đó, lại có nhiều cơ sở sản xuất, bán rượu Bàu Đá nhưng không lấy giọt rượu nào của làng.

Rượu Bàu Đá ở đâu ra khi không lấy rượu của làng mà rượu dán nhãn Bàu Đá thì nhan nhản trên thị trường, bán đầy dọc quốc lộ, nhất là đoạn qua hai huyện An Nhơn và Tây Sơn? Một số người nấu rượu cho biết, có nhiều cách để nấu rượu nhanh, nồng độ cao để giả Bàu Đá. Thông dụng nhất là dùng men Trung Quốc, bỏ vào cơm rượu 1-2 ngày là nấu được, không cần ủ lâu; có loại bỏ trực tiếp vào gạo không cần nấu thành cơm. Một số nơi sản xuất nhiều thì mua mật rỉ ở nhà máy đường về pha với nước, phẩm màu, gia thêm hương vị (thường dùng hương dứa) vào, là thành rượu Bàu Đá xanh, đỏ, vàng, tím đủ màu. Khủng khiếp hơn, một người làm rượu tiết lộ, có loại cồn chỉ cần 2 lít pha với 48 lít nước là thành 50 lít rượu!
    


Nước giếng ở làng là một “đặc ân” trời cho để nấu rượu ngon
   

Hiện nay, trên thị trường, một lít rượu Bàu Đá đóng đủ loại chai với mẫu mã bắt mắt giá chỉ 14 ngàn đồng/lít, thậm chí, có nơi chỉ bán 12 ngàn đồng/lít. Ông Nhơn băn khoăn: “Họ bán rẻ vậy mà sao lại giàu. Mình bán đắt hơn họ nhiều mà không có đồng lãi nào!”.

“Tôi và nhiều người trong làng cũng một vài lần mua thử loại rượu này về uống. Nếu chưa bao giờ uống rượu chính gốc thì rất khó phân biệt, bởi cũng nồng độ cao, cũng sủi tăm khi lắc chai nhưng rượu rất gắt, uống cứ bứ ở cổ, tăm sủi như bọt xà phòng, uống vào vài ly là đau đầu không chịu nổi”- ông Nhơn cho biết thêm. Vậy nên, cái ngày trọng đại nhất với người làng Cù Lâm là ngày danh rượu được công nhận thương hiệu, lại có rất ít cơ sở sản xuất rượu Bàu Đá đến tham dự. Có lẽ, họ sợ thương hiệu!

Cho xứng danh “đệ nhất tửu”


Nhà thơ Nguyễn Duy vinh danh rượu Bàu Đá là “đệ nhất tửu”, thi sĩ Tản Đà thì phong là “đệ nhị tửu”… Mỗi người một cách cảm nhận, nhưng ai đã một lần nhấp thử chút men nồng của ly rượu Bàu Đá thì cũng chếnh choáng như hai con người sành rượu trên.

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh kể, đoàn y tế của Hàn Quốc khi đến Bình Định khám chữa bệnh, họ đem theo một số thứ mà họ sợ ở Việt Nam không có như ớt xanh, kim chi, rượu. Nhưng khi được uống rượu Bàu Đá, họ rất mê. Không chỉ đoàn của Hàn Quốc, nhiều đoàn khách quốc tế khác khi đến Bình Định uống đúng rượu Bàu Đá của làng Cù Lâm cũng đều khen và tìm cách mua mang về. “Việc gìn giữ chất lượng, giới thiệu, quảng bá là việc làm cần thiết để rượu Bàu Đá đứng vững và vươn xa hơn”- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Bình nói.





Một hộ dân ở Nhơn Lộc (An Nhơn) nấu rượu Bàu Đá bằng phương pháp thủ công. Ảnh: V.L

Ông Lê Quang Tâm, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất - Kinh doanh rượu Bàu Đá Bình Định, cho biết, sau khi được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - Công nghệ) cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể “Rượu Bàu Đá” cho 53 doanh nghiệp, cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh rượu, cơ quan chức năng sẽ có điều kiện để quản lý, kiểm tra, nhằm lấy lại thương hiệu, uy tín rượu Bàu Đá. “Trước hết, Hiệp hội sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng dẹp tất cả những loại rượu không có nhãn mác, rượu giả đã làm giảm uy tín rượu Bàu Đá lâu nay; đồng thời, tạo điều kiện để người sản xuất rượu có lợi nhuận, giữ chất lượng, nhằm nâng cao thương hiệu rượu Bàu Đá”.

Làng Cù Lâm (xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn) là tên hành chính, người dân từ lâu đã gọi làng này là làng Bàu Đá. Theo những người lớn tuổi ở đây, trước kia, trong làng có một cái bàu rộng vài ha, xung quanh là đá, nước ở bàu này uống rất mát và ngọt. Lúc đó, nhiều nhà chưa có giếng lấy nước này về uống, nấu ăn và cả nấu rượu. Cái nguồn nước ngọt ngào ấy cho ra một loại rượu nấu từ gạo rất ngon, thơm và uống có hậu (giới uống rượu dùng từ này chỉ cho loại rượu uống xong còn ngòn ngọt ở cổ). Hương rượu của làng bay xa, nhiều người tìm đến mua. Vậy là hình thành làng rượu, hình thành danh tửu Bàu Đá.


Nguồn: Báo Bình Định

Sunday, April 8, 2012

Cội nguồn rượu Bàu Đá


Ngày xửa ngày xưa, men theo hai bờ sông Kôn từ thượng nguồn xuôi về hạ bạn, có nhiều làng rượu ngon nổi tiếng, nhất là các làng: Vĩnh Phúc, Vĩnh Cửu, Tiên Thuận, Đồng Hào, Phú Lạc, Phú Mỹ, Vĩnh Lộc, An Vinh... Thuộc Tây Sơn hạ đạo, mà dân gian thường gọi là rượu Tây Sơn. Còn rượu Bàu Đá cái “Thương hiệu” của rượu Bình Định nổi danh trong Nam, ngoài Bắc ngày nay cũng chính là dòng rượu Tây Sơn, cùng thừa hưởng chung dòng nước ngọt ngào của ngọn nguồn sông Kôn được ủ lạnh, lọc trong từ những hộc đá ngầm ở Vực Bà, Nước Miên, Nước  Trinh, sông Kxôm, Hầm hô... ban tặng cho một dòng sông, một vùng đất; nhưng cái tên rượu Bàu Đá như một câu chuyện dân gian lại bắt đầu từ xóm “Tân Long”.

Xóm có tên gọi Tân Long, (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), xưa nay chuyên nghề làm ruộng, tại xóm Tân Long có một cái bàu rộng khoảng 3 sào của ông xã Lựu, trong bàu có nhiều hòn đá to do thiên nhiên sinh ra, hằng năm ông xã Lựu tổ chức một ngày giậy bàu vào mùa hè, xóm gần- làng xa mọi người về đây bắt cá đông vui, ai bắt bao nhiêu cá cũng được, ông xã Lựu chỉ lấy một con gọi là “xâu”, vì vậy đã trở thành ngày hội bắt cá định kỳ ở cái bàu có đá xóm Tân Long và được dân gian gọi là xóm Bàu Đá. Từ khi xóm Bàu Đá nấu rượu và phát triển kinh doanh nghề rượu người ta lấy tên xóm Bàu Đá đặt cho tên rượu gọi là “ rượu Bàu Đá”.

Xóm rượu Bàu Đá ra đời muộn mằn so với các làng, xóm rượu trong vùng, đó là những năm 1947 - 1948, một số hộ gia đình: Ông Đinh Lý, Tám Cộng, Mười Mẫu, Ba Trương... mời ông Hương Lễ Nghè một nghệ nhân nổi tiếng nghề nấu rượu ở làng An Vinh, xã Bình An, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định sang dạy nghề nấu rượu, và cũng từ đây họ truyền nghề cho nhau, đến nay 40 hộ gia đình xóm Bàu Đá có đến 38 hộ chuyên nghề nấu rượu .




Hiện nay một số làng rượu truyền thống trong vùng Tây Sơn hạ đạo đã cải tiến nghề nấu rượu, miễn sao công ít, lợi nhiều. Đặc biệt ở cái xóm rượu Bàu Đá này vẫn giữ nguyên công thức cổ truyền mà ông Hương Lễ Nghè đã dạy, từ việc chọn gạo; kỹ thuật nấu cơm; họ không dùng các loại men bột công nghiệp ở TP Hồ Chí Minh như nhiều nơi dùng mà họ chọn loại men bánh dân gian, thường là men Trường Định (Bình Hòa), Bả Canh (Đập Đá). Tỷ lệ men và cơm, kỹ thuật ủ cơm rượu, đổ nước vào cơm rượu đã ủ phải lấy từ giếng bộng đất nung, hoặc giếng đá ong, không lấy nước giếng đất, giếng bêtông xi-măng. Họ không nấu nồi nhôm mà là nồi đồng, nắp đậy nồi bằng đất nung; cất rượu bằng ống tre… Từ đó đã cho ra loại rượu ngon có mùi thơm đặc  biệt và “Thương hiệu” rượu Bàu Đá đã thay cho rượu Tây Sơn xưa. Nhưng cả vùng Tây Sơn hạ đạo có chung nước sông Kôn, những xómlàng rượu nào giữ gìn nghề nấu rượu theo công thức cổ truyền thì cũng có thể gọi là rượu Bàu Đá.

Thưởng lãm rượu Bàu Đá cũng cầu kỳ lắm lắm; Rượu trong bầu, chai, nậm phải rót ra bình gọi là ve vòi, cái ve vòi đựng rượu có câu đố dân gian rằng:

Thượng tiểu, hạ đa (Trên nhỏ,dưới to)
Tích thủy, phi thủy (Đựng nước nhưng không phải nước)
Thọ thai, bất thọ thai (Chửa nhưng không phải chửa)

Rót rượu ra chén cũng có kiểu, có cách: Ve vòi giơ cao, rót dòng rượu nhỏ ra chén hạt mít sao cho có tiếng kêu róc rách, vun bọt nhưng rượu không được tràn ra miệng chén. Ngậm một ngụm rượu trong giây lát, uống xong ta thấy đọng lại vị ngọt thanh, mùi thơm khó tả…

Ai về Bình Định mà chưa được thưởng thức món chim mía Tây Sơn; chim se sẻ, nem chợ huyện Tuy Phước nhâm nhi với chén rượu Bàu Đá coi như chưa về Bình Định vậy. Người Bình Định đi xa, khách thập phương mọi miền khi tạm biệt Bình Định cũng có vài lít rượu Bàu Đá để làm quà.

Rượu Bàu Đá thường được dùng trong những ngày giỗ chạp, lễ nghi, hội hè, đình đám, nhất là những ngày Tết cổ truyền. Con cháu nội ngoại về mừng tuổi ông, bà có chén rượu Bàu Đá đặt lên bàn thờ thắp nén hương thành kính ta thấy ấm cúng thiêng liêng...

“Rượu Bàu Đá” nét văn hóa đặc trưng của miền đất võ Tây Sơn, Bình Định.

LAN ANH